Smaller Default Larger

Bốn không tác giả Trần Quý Cáp

Mẫu chuyện nhỏ dưới đây tuyệt nhiên không có họ hàng máu mủ, dây mơ rễ má gì tới cái “bống khôn - bốn không” của “Ngài Tông Tông Thiệu” một thời cờ trong tay, quyết chống Cộng đến “Giọt mắm” cuối cùng cả ! Người kể chuyện chỉ muốn thuật lại những ý nghĩ non dại, ngộ nghĩnh của mình, của một thời xa xưa. Cái thời mà Miền Nam ta còn là một “Thuở thanh bình ba trăm năm cũ”. Tức từ năm 1954 cho đến 1965. Cái thời mà tác giả chỉ mới mười bốn, mười lăm tuổi, cái tuổi mới lớn mang đầy chất lãng mạn của giới tiểu tư sản thành thị. Cái tuổi học trò Trung-Học-Đệ-Nhất-Cấp luôn sống trong mộng mơ với “Hồn Bướm Mơ Tiên” hay “Tâm Hồn Cao Thượng”.

Bốn không tác giả Trần Quý Cáp

 

Với tâm hồn luôn đắm chìm trong sách vở, mà mỗi khi nói tới chuyện đi học là thuận miệng tuôn ra: “Sáng hôm ấy, một buổi sáng đầy sương thu và gió lạnh, Mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi.” Hoặc nói tới sự chia ly, kẻ đi người ở thì thế nào cũng buột miệng “Ôi! Cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!” Ấy! Cái thời gian hoa mộng đó đã làm cho tôi sống ngất ngây sung sướng với tuổi trẻ mới lớn tràn trề nhựa sống và đầy ắp viễn mơ về một tương lai rực rỡ đang giang rộng hai tay ra và toét miệng cười chào đón tôi.
Vậy xin các bạn yên tâm, nhẩn nha đọc cho vui, khỏi lo âu “Chuyện chính chị, chính em” nhức cả đầu ở đây.
Tôi may mắn lớn lên nhằm cái thời “thanh bình giả tạo” của Miền Nam hơn mười năm. (Bắt chước cách nói của Kách Mệnh Ta gọi sự giàu có ở Miền Nam trước năm 75 là “phồn vinh giả tạo” “ấy mà”!) Những năm đó cứ mỗi độ trăng tròn, cuối tuần, thứ bảy, chủ nhật, là tôi rong xe về nhà quê chơi. Trời vừa sụp tối một chút thì trăng đã ló lên khỏi mặt biển rồi. Trong chốc lát, vành trăng lồ lộ sáng rực rỡ, chiếu sáng lòa cả không gian. Thành phố Nha Trang tràn ngập ánh trăng. Người người đông vầy đua nhau kéo nhau ra biển để hóng gió mát và ngắm trăng long lanh trên mặt nước.
Lúc ấy, riêng tôi, lưng giắt ống sáo trúc, thong thả cởi con ngựa sắt, nhẩn nha đạp xe về Diên-Khánh, Thành để vui với hương đồng gió nội. Không gì lãng mạn và thơ mộng cho bằng một mình tà tà đạp xe theo Quốc Lộ I dưới ánh trăng bàng bạc sáng loang loáng trên đường nhựa. Hai bên đường rãi rác những vườn cây trái, hương hoa bưởi, hoa cam, hoa cau thơm ngát lẫn trong cái không khí mát dịu của đêm. Lúc ngang qua những cánh đồng lúa đang chín vàng rực dưới ánh trăng, trông như được giát vàng, mùi lúa chín thơm lừng trong gió.
Tuần này ở Diên Khánh coi cảnh đập lúa trên sân trước nhà, rộn ràng câu hò tiếng hát. Tuần sau, qua Phú Lộc, Bến Trâu, chèo thuyền tam bản ngược giòng sông Cái, khua mái chèo đập vỡ ánh trăng cho tan theo tiếng cười khanh khách của mấy bà chị, mấy cô em họ đồng lứa tuổi, giòn và trong vắt như những mãnh pha lê vỡ. Cao hứng, tôi rút chiếc sáo trúc, thổi lên mấy khúc dặt dìu theo gió thoảng đưa. Thật là thú vị và sảng khoái biết bao.
Suốt nhiều năm ở trung học, tôi đã sống trọn và sống hết mình trong cái không gian êm đềm, thơ mộng quyện đầy tình cảm thân thiết như thế.
Nhưng mỗi lần đạp xe đến cầu sông Cạn, chiếc cầu bằng xi măng nhỏ xíu, ngắn chưa đầy mươi thước, bắt qua con sông Cạn cũng nhỏ xíu như chiếc cầu, chảy ngoằn ngoèo qua những bờ ruộng cho tới tận chân núi phía Đông Nam xa xa kia, tôi lại dừng xe, đứng trên cầu ngắm nhìn phong cảnh. Trên bờ sông, mé phía mô cầu vào Thành, trên gò đất cao, nằm giữa một bãi bồi trồng hoa màu, có một chiếc miếu nhỏ, quanh năm khói hương nghi ngút. Chiếc miếu luôn được dân làng vùng này sửa sang, quét tước sạch sẽ. Và hương khói ngày đêm đã làm cho chiếc miếu ấm cúng, thân quen với khách đi đường. Khác hẳn những cái miếu khác, hương tàn khói lạnh, dọc đường.
Chiếc miếu đó thờ vị anh hùng dân tộc: Trần Quí Cáp, người thanh niên trẻ tuổi đi theo Cụ Phan Chu Trinh đánh Tây, cứu nước. Trần Quí Cáp đã bị Tây bắt và xữ tử Ông tại chiếc cầu này: Cầu sông Cạn. Người dân Thành thương nhớ Ông, đã tự động lập miếu thờ Ông để tỏ lòng tiếc nhớ.
Mặc dù học sử biết Ông là người Quảng Nam, nhưng hồi ấy, tôi cứ nhất định dành Ông là người Nha Trang Khánh Hòa của tôi, để quê tôi được một chút thơm lây. Đất Khánh Hòa Nha Trang tôi hiền quá, nên suốt chiều dài lịch sử không có lấy được một vị anh hùng hào kiệt nổi danh nào (*).
Thiệt là buồn cho quê tôi quá. Miền nào trên dãi đất hình cong chữ S này đâu đâu cũng có anh hùng hào kiệt, nhất là từ bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú trở ra Đàng ngoài. Các bạn học tôi ai cũng có vốn liếng nhân tài để khoe. Tôi thì cứ ngồi im như thóc để nghe chứ không có gì để “nổ” lại. Cho nên, tôi cứ khư khư, nhất quyết ôm lấy Ông Trần Quí Cáp của tôi để làm ngón “đà đao” rửa hận trong những lúc tranh luận, tranh tài (dõm). Nhưng khi tôi ôm lấy Ông Trần Quí Cáp trong trái tim nóng hổi của tôi, tôi vẫn có một điều lấn cấn, thắc mắc một giai thoại về Ông lâu lắm rồi. Cái lấn cấn, thắc mắc này mỗi ngày cứ mỗi lớn dần theo năm tháng của tuổi niên thiếu của tôi. Và nó thực sự cấp bách khi tôi ở vào cái giai đoạn “Trai khôn tìm vợ chợ đông” đi tìm hiểu cho tỏ lạch nguồn cái thắc mắc đó.
Tôi đã từng đem vấn đề này đi hỏi nhiều người nhưng chỉ được những kết quả “Có cũng như không”. Còn hỏi những người xứ Quảng thì chỉ nhận được những cái trừng mắt giận dữ rồi bỏ đi của họ.
Mãi cho đến giờ này, tóc tôi đã bạc gần hết, răng thì dĩ nhiên đã gửi tặng trọn bộ cho hai trại cải tạo Đá Bàn và A.30 hết rồi, từ cái năm 1975 đến 1981, tôi vẫn chưa tìm ra giải đáp được điều thắc mắc trên.
Đó là một trong “Bốn không” mà tôi nêu lên làm thành tiêu đề câu chuyện này. Không biết từ khi nào, lúc hãy còn ở trung học, tôi đã nghe biết được giai thoại này. Người ta kể rằng:
Ông Trần Quí Cáp lúc còn sinh thời, cùng các Cụ Phan Chu Trinh, Cụ Phan Bội Châu, Cụ Huỳnh Thúc Kháng đi làm cách mạng, đã lê gót giang hồ khắp nơi để tìm hiểu lòng dân và hô hào toàn dân từ Nam chí Bắc đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp dành lại độc lập tự do cho đất nước. Nhờ đi nhiều nơi như vậy, Ông thu thập được nhiều kinh nghiệm sống và lưu lại hậu thế “Bốn cái không” như một bí kíp để cho đám hậu sinh suy ngẫm mà biết cách xử sự và ứng dụng trong cuộc sống đầy hư và thực này.


Cái bí kíp để lại, chỉ vỏn vẹn có bốn khẩu quyết giống như chuyện “Đồ Long Đao - Ỷ Thiên Kiếm” của Tổ Sư “nổ” Kim Dung bên Hồng Kông, kể chuyện một khứa lão viết Cửu Dương chân kinh trên miếng “da dê” dấu trong bụng con khỉ, mà khi sắp lâm chung, anh khứa cao thủ võ lâm tiền bối này hấp ha, hấp hối, phều phào trối trăng lại chổ dấu cho “đồng chí” hậu bối đi tìm để luyện võ công. Anh hậu bối này tai cũng không được thính cho mấy, tuy đã áp sát tai vào miệng để nghe cho rõ nhưng nghễnh ngãng vẫn nghe thành chữ “tác” đánh ra chữ “tộ”.
Đồng chí tiền bối nói: “Kinh trong hầu”. Đồng chí hậu bối lại nghe ra: “Kim trong dầu”. Cứ thế, đồng chí ta thấy ai gánh dầu đi bán đều ra tay xáng chưởng, đổ hết dầu của người ta ra mà tìm kim, tức tìm bí kíp Cửu Dương chân kinh. Câu chuyện rất buồn cười. Vậy mà cũng lôi cuốn gần mấy chục triệu độc giả khắp năm châu, bốn bể, đọc say, đọc mê, đọc ngày đêm, quên ăn, bỏ ngủ. Chỉ có các “đồng chí Kách Mạng” của “Đảng Cọng Sản Việt Nam Ta” là không đọc và cho đó là văn hóa đồi trụy, phải nghiêm cấm, tịch thu và đem đốt hết. Nhưng tịch thu thì có mà đem đốt thì không. Các đồng chí ta đem vô buồng ngủ dấu hết, để đọc lén. Đọc mê đến nổi bỏ họp, bỏ hành. Họp hành quanh năm suốt tháng là nghề của chàng mà! Bỏ luôn cả cử đọc kinh buổi sáng, buổi tối mỗi ngày “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. “Ai yêu Bác Hồ bằng các em... ”
Từ đó, trong dân gian nổi lên câu diễu cửa miệng: “Đảng ta nói dzậy, chớ không phải dzậy!” để diễn nôm câu “Đường lối Đảng ta trước sau như một, không bao giờ thay đổi, chỉ có bổ sung”.
(Bây giờ thì “Đảng ta” chính thức cho in lại toàn bộ mấy chục truyện của Kim Dung để toàn Đảng, toàn quân tha hồ đọc thoải mái và học tập “Rút kinh nghiệm” khỏi phải đọc lén nữa kẻo mang tiếng độc tài, độc đoán ngu dân.)
Bốn khẩu quyết của Ông Trần Quí Cáp để lại cho hậu thế là như vầy :

Nhứt bất giao Thừa Thiên chi hữu.
Nhị bất đấu Phú Yên chi kê.
Tam bất thú Quảng Ngãi chi thê.
Tứ bất thương Bắc kỳ chi xứ.

Tương truyền, Ông để lại ngần ấy câu mà không có hướng dẫn hay ghi chú, “Diễn nghĩa Tam Quốc chí” hay “Lời bàn Mao Tôn Cương” nào cả. Thế mới cơ khổ cho tôi. Tôi cứ mang mãi cái lấn cấn trong người mấy chục năm nay. Tâm trạng tôi cũng giống như anh chàng hậu bối trên kia cứ cắm cổ đi tìm mãi “Kim trong dầu”.
Ba “Cái không” ba nơi là Thừa Thiên, Phú Yên và Bắc Kỳ thì tôi hơi hiểu chút chút. Còn cái “không lấy vợ Quảng Ngãi” thì tôi chịu, không thể nào lý giải được! Tại sao lại không nên lấy vợ Quảng Ngãi? Cái vụ này ta hãy bàn sau chót.
Bây giờ mời các bạn hãy cùng tôi đem từng “cái không” lên bàn mổ, mổ lại lần nữa xem có chút hy vọng nào le lói hiện ra như Thiên Đàng Xã Hội Chủ Nghĩa sắp hiện ra ở cuối chân trời Công-Gô không?

Nhứt bất giao Thừa Thiên chi hữu ?

Tại sao lại không nên kết bạn với người Thừa Thiên, tức người Huế?
Ông Trần Quí Cáp nói như vậy có khí quá chăng, có vơ đủa cả nắm chăng?
Tôi nghĩ là có đấy.
Từ lúc tôi ra Qui Nhơn học Sư Phạm, năm 1962, thì bạn đồng môn đa phần là Huế. Sau này đi dạy và đi lính đánh bạn với người Huế cũng nhiều. Và dĩ nhiên, mía sâu có đốt, nhà dột có nơi. Ở đâu lại chả có người tốt, kẻ xấu. Chẳng cứ gì ở đất Thừa Thiên!
Thuở nhỏ, tôi có hai bà mợ dâu người Huế. Giọng nói của hai bà lúc nào cũng nhẹ nhàng êm đềm như dòng sông Hương lặng lờ chảy. Không bao giờ tôi thấy hai bà to tiếng với ai cả.
Bà mợ thứ sáu dạy con cái rất kiểu cách. Bà thường nhắc nhở các anh chị tôi với câu “Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”. Ý bà ám chỉ mặc dù cậu tôi là con nhà dân dã, quê mùa nhưng vẫn còn bà đây là dòng dõi quan lại triều đình, nên các anh chị tôi phải học phong cách con dòng cháu giống. Bà vẫn thường mơ mơ hồ hồ, xa xôi với hàng xóm rằng thân thế bà là chốn quyền quí, cao sang, thuộc hàng các Ôn, các Mệ. Mặc dù các bà mỏ nhọn ở xóm tôi xầm xì sau lưng mợ tôi rằng “Không biết con mẻ ở đâu trôi dạt tới đây gặp anh Sáu (tức cậu tôi) là phước đức ba đời rồi mà cứ lên giọng nói phách”. Tuy nói lén sau lưng như vậy, nhưng trước mặt mợ tôi thì các bà lại “Chị Sáu, chị Sáu” ngọt hơn đường phèn.
Mợ Sáu tôi hút thuốc cẩm lệ, vấn sâu kèn. Điếu thuốc to bằng ngón tay cái. Có lẽ điếu thuốc quá nặng nên nó kéo lưỡi bà le ra và trì cái môi dưới của bà xuống, lệch một bên. Do vậy bà không nói được tiếng “nhà”. Bà nói “Suột cái dà” thay vì “Quét cái nhà”. Hay “Đi chợ mua ký nho” bà nói thành “kỵ do”. Khi bận chuyện gì thình lình không thể phập phà thuốc được, bà lấy điếu thuốc ra khỏi miệng và dán nó lên cây cột nhà bằng cái đuôi thuốc. Nước miếng bà chắc dẽo như keo nên những đuôi thuốc đó dính cứng ở trên cây cột ngày này qua năm kia. Những lần đến nhà cậu chơi, tôi thường thấy những đuôi thuốc ấy giống như bầy thằn lằn đang bám vào cột. Tôi hỏi anh Minh, con đầu của cậu mợ:
- “Anh Minh à! Sao anh không gở mấy cái điếu thuốc kia quăng đi. Trông nó giống như mấy con thằn lằn gớm quá chừng vậy?”
- “Ý! Đâu được mậy! Má tao nói bả để dành đó. Khi nào thình lình hết thuốc bất tử, nửa đêm nửa hôm, không đi mua được thì bả lấy xuống hút đở. Bả dặn đứa nào đụng vô đó bả đập chết!”
Mỗi lần đến nhà chơi, mợ vồn vã săn đón tôi rất nhiệt tình:
“À con! Con tới chơi hả! Con có ăn kẹo không, kẹo chi, mợ đi lấy cho!
Nhưng tôi chờ mỏi cả cổ vẫn không bao giờ ăn được một cây kẹo nào của mợ cả. Mợ còn khen tôi học giỏi, ngoan, có hiếu với cha mẹ, còn nhỏ mà đã biết giúp cha mẹ buôn bán làm ăn. - “Chẳng bù với mấy anh chị mi, chỉ biết học hành không thôi”. Bà tặc lưỡi sau câu nói, tỏ ý phàn nàn mấy anh chị tôi ham học quá. Nhưng trong ánh mắt và cái cười nhếch miệng, tôi cũng nhận ra mợ tôi đang hảnh diện với các con của bà.
Năm tôi thi đậu Trung Học, tức cái bằng “Đít Lôm” hồi ấy to lắm, cha mẹ tôi định cúng cái đầu heo để tạ ơn Ông Bà phù hộ cho tôi, nhưng mấy bà hàng xóm đến mét với Má tôi rằng:
- “Chị Bảy à! Thằng con chị có đậu thiệt không? Chớ tụi tui nghe chị Sáu nói, sanh ra nghi quá!”
- “Mấy chị nghe vợ anh Sáu tui nói sao?”
Má tôi cũng đâm ra nghi ngờ con bà, giống như lúc bà mẹ Mạnh Tử nghe người ta nói Mạnh Tử giết người vậy. Bà run run hỏi lại.
- “Chị Sáu nói: “Thằng Minh tui học sôi cơm mửa máu mà còn chưa đậu được huống chi thằng nớ. Nó cả ngày xay bột, nướng bánh tráng, cuốn chả giúp mẹ nó bán quán, có thấy học bao giờ mô mà đậu! Có mà “đậu tru”.
Tiếng “tru” mấy bà bắt chước nhái giọng mợ tôi, chu mỏ lại, kéo dài giọng ra thành “tru... u...u...”. Nghe rất hài hước.
Tôi ngồi cạnh đó nghe hết những câu nói mấy bà hàng xóm và nhìn Má tôi, thấy ai cũng lộ vẻ nghi ngờ tôi nói dối. Tôi tức muốn phát khóc.
Tối hôm đó tôi bặm gan trèo tường vô Trường Trung Học Võ Tánh, trước cửa văn phòng, vừa sợ ma, vừa sợ ông Cai trường bắt gặp, lén gở tờ giấy báo tên thí sinh trúng tuyển có tên tôi, mang về cho Má tôi coi. Chừng đó Má tôi mới vừa tin, vừa khóc vì mừng mà có lẽ cũng vì ân hận sự nghi ngờ oan cho con mình.
Quả thực, anh Minh tôi mỗi lần học bài, anh ngồi dưới ánh đèn “măng xông” sáng lòa ở giữa nhà, giọng anh to, vang cả xóm. Ai đi ngang nhà cũng nghe rõ mồn một. Anh học ngày, học đêm. Có hôm anh vừa đạp xe, hai tay cầm sách học, không cần cầm ghi đông. Anh học như thế từ cuối xóm lên đầu xóm. Ai ai cũng trầm trồ khen ngợi. Riêng tôi thì thán phục anh vô cùng về cái tài đi xe đạp buông tay lái mà không ngã.
Còn tôi thì tối nào cũng xay cho Má tôi hai ký gạo nếp để ngày mai bà nấu chè “trôi nước”, nhưn đậu xanh, bán cho bạn ghe buổi trưa, khi mành về, phơi lưới. Tôi vừa xay bột vừa để vở trên bắp vế trước ngọn đèn hột vịt sáng tù mù để học bài. Cả nhà, các em tôi đang ngủ say, tôi phải nhẩm bài lâm râm trong miệng chớ đâu dám học to tiếng, sợ chúng thức giấc. Cái khổ lúc ấy của tôi không phải công việc xay bột mà là lo đập muỗi. Muỗi bay từng đàn, xúm vào hai bắp cẳng tôi mà hút máu. Tôi mặc quần đùi. Tôi phải thủ sẵn cái quạt mo làm bằng tàu cau bán ở chợ đuổi muỗi. Mỗi lần tôi quơ ngang hai chân, nghe tiếng muỗi va vào quạt lụp bụp như tiếng mưa rào.
Anh Minh học trên tôi hai lớp. Đến năm tôi đậu Tú Tài và đi học Sư Phạm anh vẫn chưa giật được cái “Đít Lôm”.
Mợ tôi nói anh Minh tôi “Học tài thi phận”. Còn tôi thì “Chó ngáp phải ruồi”. Mà phải là những con ruồi bị đui mới lọt vô miệng chó đúng lúc nó ngáp.
Đúng vậy. Cả xóm ai cũng ngạc nhiên khi thấy tôi “Ngáp phải ruồi” nhiều lần. Từ cái bằng Tiểu Học “Ri Me” cho đến “Đít Lôm” rồi tới “Bắt cá lội ao Một - Lội ao Hai” (Baccalauréa Un et Complet = Tú Tài 1 và 2).
Má tôi thì không chịu ai cho rằng thằng con mình là cái đồ “Chó ngáp”. Bà nói đó là “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ”.
Bà mợ dâu thứ tám của tôi thì dịu dàng và quí phái hơn nhiều. Bà có làn da trắng trẻo. Khuôn mặt bà bầu bĩnh trông rất đôn hậu. Miệng bà luôn cười tươi để lộ ra hai hàm răng trắng tinh. Hàm trên có bịt hai cái răng vàng sáng lấp lánh mỗi khi bà hé miệng nói hay cười. Cậu Tám tôi là con bà ngoại họ, chị em bạn dì với bà ngoại tôi. Nhà Cậu ở gần nhà Lao tức Cải Hối Thất Nha Trang, sát chợ Đầm. Cậu bị tật ở chân trái từ hồi nhỏ bị bệnh ôn dịch. Cậu đi lệch một chân nhưng không thảm tệ như anh Bảy Dẹo ở Xóm Cồn. Nhờ bị tật ở chân, Cậu không phải vào lính. Cậu mở trường dạy học tại nhà. Từ lớp Năm cho tới luyện thi Đệ thất, một mình Cậu bao thầu hết. Mỗi lớp chừng chục đứa, ngồi chung một gian nhà sau. Mỗi buổi sáng, vào giờ nhập học, gian nhà sau ồn như cái chợ chồm hỗm. Mấy lớp lớn thì nói chuyện với nhau như két họp đàn. Mấy lớp nhỏ thì vừa khóc vừa la, vừa ỉa đái tại chỗ. Một mình Cậu tôi quay bên này ra bài tập cho lớp Nhứt, lớp Nhì, quay bên kia phóng bài tập đồ cho lớp Một, lớp Hai. Chiếc roi tre bằng hai ngón tay, dài độ sãi tay, nhịp lên mặt bàn không ngớt để giữ im lặng. Nhưng mạnh thầy, thầy nhịp; mạnh trò, trò ồn. Ban đầu thì mợ tôi cũng tiếp tay với cậu để truyền thụ chữ nghĩa Thánh hiền cho đám hậu sinh. Nhưng bỗng một hôm, mợ nghĩ ra cách kiếm thêm tiền giúp cho cậu đở cực nhọc, theo lời mợ phân bày, bằng cách mở một quày bán bánh kẹo ngay cạnh lớp học để bán cho học trò. Mợ nói:
-“Từ ngày mợ bắt đầu bán bánh kẹo, lớp học bớt ồn ào và đám lóc nhóc không còn la khóc nữa. Chúng nó bận ngậm kẹo trong miệng thì làm sao mà khóc với nói chuyện được? Hơn nữa, mợ còn giữ an ninh cho chúng nữa. Chúng không còn phải băng qua bên kia đường để mua quà vặt của quán bà Bảy Thơm, tránh được nạn xe cộ.”
Nhưng kể từ ngày đó, cậu tôi không đở nhọc chút nào mà còn có phần vất vả thêm. Cậu phải xuống Cồn nói với dì Năm tôi cho anh Ba Chẩn, con trai thứ hai của dì, lên phụ với cậu chăn lũ học trò. Dượng Năm tôi bị tai nạn nghề nghiệp chết khi chưa đầy ba mươi lăm tuổi, để lại cho dì tôi một bầy con lúc nhúc. Dượng làm thợ điện và bị điện giật chết. Sinh nghề, tử nghiệp. Anh Ba Chẩn mới học tới lớp Ba, phải nghỉ học ở nhà đi mành kiếm tiền giúp mẹ nuôi em. Nghề mành trên nắng dưới nước rất cơ cực. Da cháy đen như Ma Rốc. Tóc vàng hoe như Tây Thực dân. Người anh phát ra mùi khét nắng. Bây giờ anh quần áo tươm tất, giữ chân “phụ giảng” rất oai phong. Năm đó tôi đang học lớp Ba trường Nam Tiểu học.
Ba tháng nghỉ hè, ngoài việc giúp vặt trong quán cho Má tôi ra, còn lại, suốt ngày tôi rong theo bọn thằng Cò Ù, Phát Bét, So Trọc, lang thang ở mấy bãi ma dương, dũ dẽ ở Xóm Mới để rượt theo mấy con kỳ nhông không biết mỏi mệt. Hoặc xuống sông, xuống biển nô đùa dỡn sóng, bắt cua, bắt ghẹ, câu cá, đặt bẩy khúm núm ở biển Nha Trang. Đầu tóc tôi cũng cháy vàng, khét nắng không thua gì mấy đứa đi qua lồ cho ghe mành.
Má tôi quyết định gửi tôi cho anh Ba Chẩn dẫn tôi theo, xin với cậu Tám cho tôi học hè, kiếm thêm được chữ nào hay chữ ấy.
Tôi mang tiếng là đi học hè, cậu tôi không thu học phí vì là chỗ bà con, nhưng bù lại, tôi phải giúp cậu tôi lo cái chuyện ỉa đái của mấy đứa lớp Mẫu Giáo và lớp Một, lớp Hai. Chúng nó cứ đua nhau xin đi đái suốt ngày. Mỗi lần ba bốn đứa. Hết tốp này đến tốp khác. Thành ra suốt ba tháng hè, tôi chẳng học thêm được chữ Thánh hiền nào của cậu tôi cả.
Mỗi ngày tan học, chờ cho học trò ra về hết, tôi phụ với anh Ba xếp ghế chồng lên bàn cho ngay ngắn, quét dọn rác rưởi sạch sẽ rồi mới ra về.
Mợ tôi luôn ngồi trước cửa chào chúng tôi trước khi bước ra khỏi nhà. Ngày nào mợ cũng gọi tôi lại khen ngợi vài câu:
- “Cháu tôi giỏi quá! Tới đây mợ khen nì!”
- “Chao ôi! Hôm ni cháu tui mặc bộ đồ đẹp quá, cho mợ rờ coi chút hỉ?”
Lần đầu tiên tôi xúc động lắm. Hình như tôi có chảy nước mắt thì phải. Tôi là thằng mít ướt, hay mau nước mắt mà. Ở nhà, Cha Mẹ tôi tuy thương con nhưng chưa bao giờ biểu lộ tình cảm một cách êm đềm trìu mến như vậy. Giọng mợ tôi ôn nhu nghe như rót mật vào tai. Mỗi lần như thế, mợ ôm tôi vào lòng, vuốt ve từ trên xuống dưới thật dịu dàng, thân mật. Lòng tôi rung động với cảm xúc tràn trề sung sướng.
Nhiều lần sau cũng y như vậy, cái cảm giác ban đầu cũng quen dần và tôi tỉnh táo nhận ra rằng mợ chỉ vuốt ve từ ngực xuống đến mông mà thôi. Mợ không xoa đầu tôi hay bẹo má tôi như những người thường hay nựng trẻ con. Một hôm tôi đem điều đó hỏi anh Ba Chẩn. Anh Ba cười sằng sặc văng cả nước miếng. Anh cười một thôi, một hồi rồi mới nói:
- “Bấy lâu nay, bộ mày tưởng bà mợ Tám thương mày hả? Bả làm vậy là để lục soát mấy cái túi của mầy có ăn cắp kẹo dấu trong đó không! Mấy tuần đầu bả cũng lục tao y như lục mầy bây giờ vậy đó!”
Tối hôm đó, tôi thỏ thẻ mét lại với Má tôi. Má tôi ngồi im nghe, không nói gì. Nhưng trông nét mặt bà có vẻ không vui. Bà kêu anh Ba lại hỏi cho rõ. Anh Ba cũng xác nhận đúng điều tôi mét.
Hôm sau bà không cho tôi đi học nữa và nhờ anh Ba thưa lại với cậu Tám là tôi phải ở nhà phụ với bà buôn bán vì dạo này mành trúng nên người ta đến quán Má tôi đông lắm.
Tôi biết Má tôi nói dối vì bà tự ái với thái độ coi khinh con cháu nghèo của bà mợ dâu.
Cũng từ đó mãi về sau, tôi rất ít đến nhà cậu Tám tôi. Nói đúng hơn là khi tôi lên Trung Học, tôi không bao giờ trở lại ngôi trường Tư Thục X.C. để thăm cậu Tám tôi. Tôi đã biết sợ cái khuôn mặt đôn hậu, cái giọng nói ngọt như mật và những cái vuốt ve trìu mến của bà mợ dâu thứ Tám của tôi rồi.
Năm tôi ra Qui Nhơn học Sư Phạm, trừ cô Đỗ Thị Ngh. người Bắc ra, còn lại bạn trai, bạn gái đều là người Huế. Tôi biết họ đều là những người nghèo lõ đít như tôi cả, nhưng họ ăn mặc thì sang không chê vào đâu được. Trai thì quần “tẹc gan” may bốn ly ngược, túi xéo, ống túm. Áo thì “nin phăng”. Chân đi giầy da láng bóng. Cổ áo luôn có con khô mực tòn teng, tiếng Tây gọi là cái “Cà la hoách”. Các cô thì luôn áo dài, không lụa thì cũng nhung. Quần lụa ống rộng trắng lốp. Cổ tay nhất định phải có cái vòng ngọc xanh và cái đồng hồ xinh xinh hiệu “Ô mê ga” bằng vàng Tây.
Trời mới chớm sang thu, gió thu mát mẻ, cái đất Qui Nhơn có bao giờ lạnh rét, thế mà anh nào, chị nấy đều “phu la” màu quấn cổ, bỏ thòng xuống tận thắt lưng. Môi bôi son hồng cánh sen. Mấy công tử thì bảo bôi cho môi khỏi nứt nẻ.
Còn dân Nha Trang mới rời trường trung học có mấy tháng nên vẫn bộ đồ học sinh, quần ka ki xanh, áo sơ mi trắng “pốp lin ba trái đào” vừa gở bỏ huy hiệu tên trường trước ngực, giầy săn đan rọ heo. Đứng cạnh mấy bạn người Huế, dân Nha Trang trông thật quê mùa và cù lần hết chỗ nói. Mà không riêng gì dân Nha Trang tôi, ngay cả mấy anh trai Qui Nhơn bản địa trông cũng cù lần, cục mịch lắm. Hèn chi hồi đó, mấy mỹ nhân xứ Hàn Mặc Tử của mấy trường trung học Cường Để, Tân Bình, Bồ Đề, Trinh Vương đều bỏ bồ “lô can” chạy theo “trai ngoại Huế” hết.
Ngoài cách ăn mặc sang trọng ra, các cô, các cậu của xứ Thần Kinh Cố Đô còn có tài ăn nói hay ho nữa. Nhất là tài nói dóc. Ngôn ngữ bây giờ gọi là “nổ”. Các anh các chị tha hồ nổ hơn tạc đạn. Ai cũng đều là con ông quan này, cháu ông Hoàng kia hết. Có mỗi một quán kem Phi Điệp duy nhất, chúng tôi hay vào đó mỗi buổi tối, đếu biết nhẵn mặt nhau. Thế mà sáng hôm sau đi học, anh bạn Huế khoe với tôi: “Túi hôm qua “tau” làm ba chai con cọp với hai tô bò viên ngầu pín, say ngất ngư gần chệt! Rứa mới đạ!”
Nghe xong tôi chỉ cười thầm trong bụng: “Dóc tổ! Tối hôm qua bọn tao ngồi cả buổi tối ở đó với bình trà Thiết Quan Âm, uống tới sái thứ tư, nước lạt nhách mới về, có thấy mặt mày đâu mà bây giờ nổ ghê quá vậy!” Bình trà Thiết Quan Âm ba đồng. Thêm nước sôi tha hồ “vô tư” tức miễn phí. Bia con cọp chai lớn ba đồng. Tô bò viên có ngầu pín cũng ba đồng. Cơm tháng hẽm Lê Lợi chỉ có sáu chục đồng. Vậy mà anh bạn tôi “nổ” một phát tới mười lăm đồng một đêm, bằng một phần tư tiền cơm tháng. Nổ như vậy còn hơn cả một kho đạn nổ. Xin bái phục!
Nhưng may thay! Tôi không phải gặp toàn những chuyện “vui” như thế. Thời gian hai năm học Sư Phạm ở Qui Nhơn tôi cũng vướng phải vài chuyện tình buồn. Trong số này, chuyện tình với “tiểu thơ” Công Tằng Tôn Nữ Cẩm Nhung, “Con nhà quyền quí cao sang” đã làm cho tôi ân hận mãi không thôi.
Tôi ân hận là vì cái tự ti mặc cảm con nhà dân dã của tôi. Tôi đã trốn chạy khỏi tình yêu rất chân thật, rất nồng nhiệt thiết tha mà nàng đã trao hết cho tôi. Đến nay đã hơn bốn mươi năm qua, tôi nghĩ chưa chắc nàng đã biết lý do vì sao tôi đã lặng lẽ bỏ đi mà không có “Một lời tạ từ trong đêm”. Chắc hẵn nàng đã đau khổ và trách móc tôi bạc tình, bạc nghĩa một thời gian dài lắm mới nguôi ngoai
Câu chuyện tình như thế nào, khỏi cần phải cà kê dông dài ra đây làm gì cho bạn phí thì giờ. Vì chuyện tình nào nhắc lại cũng nhãm và buồn cười như nhau. Nhưng với hai kẻ đang yêu nhau thì nó lại “Mùi tận mạng” và hay nhất trên cái cõi đời này. Tôi chỉ nhắc lại một câu nói của nàng thôi, chỉ một câu thôi, thế nào bạn cũng như tôi sẽ yêu mê, yêu mệt, rứt ra không đành. Cứ mỗi lần nàng đến thăm tôi ở nhà trọ, tôi cứ đắm say nhìn vào đôi mắt hơi mại của nàng (Đôi mắt của cô học trò Diễm làm chết đuối ông thầy Đạt đạo mạo, mô phạm của mình trong tiểu thuyết “Yêu” của ông Chu Tử) và vuốt ve không ngừng mái tóc thề đen như mun, mịn như nhung, buông dài đến tận ngang eo của nàng. Mái tóc thề đặc biệt của đa số các cô gái Huế. Thỉnh thoảng chúng tôi lại hôn nhau. Và nàng cười trong mắt.
Khi ra về, nàng giả từ bằng câu:
- “Thôi! Em về nghe!”
Chao ôi! Cái tiếng “Em về nghe” sao mà êm như gió thoảng, mềm mại như nhung, dịu dàng như lụa. Ngọt như đường phèn La Hai, mát như đường phổi Quảng Ngãi. Tôi không sao cầm lòng cho được, lại phải kéo nàng vào lòng hôn thêm trên vầng trán, trên đôi môi nàng vài nụ hôn nữa. Nàng lại nhẹ nhàng gỡ vòng tay tôi ra và:
- “Thôi! Chừ cho em về nghe!”
Và khi thực sự để cho nàng bước ra khỏi cửa, tôi còn tham lam làm thêm vài phùa nữa. Chúng tôi đang yêu nhau đằm thấm nồng nàn như vậy chỉ còn chờ ngày tôi ra trường và cha mẹ hai bên cùng nhau “Nói chuyện đứng đắn đi tới hôn nhơn” thì bỗng một hôm nàng cao hứng kể về gia thế nàng cho tôi nghe. Tôi ngồi nghe mà người tôi bỗng dưng lạnh toát. Thân thể tôi từ từ biến thành cây nước đá. Tim tôi cơ hồ đông cứng, máu không còn chảy nữa.
Nàng vui vẻ kể:
- “Ba em ngày xưa làm một chức quan nhỏ trong Triều. Khi Đức Kim Thượng Bảo Đại thoái vị, giao quyền lại cho Việt Minh, Ba em cáo lão hồi hưu. Mấy năm sau, Mẹ em bị bạo bệnh qua đời. Ba em ở vậy nuôi con. Mấy chị em em sống với cha trong khuôn khổ lễ giáo triều đình. Ba em rất nghiêm và trọng thể diện lắm. Ông thường nói “Giấy rách phải giữ lấy lề”. Bây giờ nhà em sa sút lắm rồi. Ăn bửa đói bửa no nhưng Ba em vẫn giữ bộ đồ ăn mâm bạc, chén vàng làm đồ gia bảo. Ai hỏi mua ông cũng nhất định không bán. Một năm, mấy lần, khi đến ngày kỵ Ông Bà hay Mạ em, ông lại đem bộ đồ ăn ra, sai tụi em mang ra cầu ao rửa. Ông không chịu rửa trong nhà mà bắt phải rửa ở cầu ao cho mấy Mệ, mấy Ôn chung quanh nhìn thấy. Ông anh rễ em hồi còn mới đến làm rễ đã phải sợ ông một phép. Hôm nhằm ngày giỗ Mạ em, anh ấy quét dọn bàn thờ, đem hết bộ tam sanh, ngũ sự xuống lau chùi đánh bóng. Mấy chị em em đang lo nấu nướng dưới bếp thì nghe Ba em đang to tiếng la rầy ông anh rễ tương lai. Tụi em chạy lên coi chuyện gì, thì thấy anh đang xếp các lư đồng lên bàn thờ, còn Ba em thì chắp tay sau lưng đứng ngắm nghía. Và phê bình:
- “Mi từng nớ hột mà không biết lễ nghĩa chi mô hết. Mi sắp cái bộ ngũ sự chi mà lạ rứa?”
Ông anh rể tôi ngơ ngác không hiểu Ba tôi định nói cái gì. Mà cả mấy chị em em cũng không hiểu nốt. Thì hai cái chưn đèn, hai cái đài, một cái lư hương có nắp đậy đúc hình đầu hai con sư tử hí cầu, sắp theo thứ tự như mọi lần có khác chi mô. Nhìn thấy ông anh rễ đang ngẫn tò te, mặt xanh dờn, chị em đỡ đòn dùm:
- “Ảnh làm rứa mà Ba không bằng lòng thì Ba vẽ cho ảnh cách làm đi. Hôm ni là ngày của Mạ, Ba đừng giận hờn la mắng chi cho Mạ buồn.
Thì ra Ba em chê anh rễ sắp đặt bộ ngũ không ngay ngắn, đồng đều. Ông kêu dọn xuống hết sắp lại theo cách chỉ vẻ của ông. Ông vừa chỉ vừa nói:
- “Hồi tau còn trong Triều, tau phụ tá Bộ Lễ, chuyên lo chuyện tế tự, tế lễ nên lễ nghi Triều đình tau mới rành. Bọn bây con nít biết chi mô! Nì! Thằng mi lấy cho tau sợi lạt dài tới đây tau vẽ cho rồi từ đây về sau cứ y rứa mà làm.”
Ông lấy sợi giây lạt đo đúng chiều dài mặt bàn thờ, dùng dao cắt bỏ đoạn thừa, rồi ông gấp đôi sợi lạt lại, chia mặt bàn thờ ra làm hai. Ông kêu anh rễ mang cái lư hương đến đặt ngay trung tâm điểm bàn thờ, ngay đầu đoạn lạt vừa gấp đôi. Ông lại gấp đôi lần nữa nửa đoạn lạt để lấy tâm điểm đặt hai cái đài và sau cùng mới tới hai cái chưn đèn thờ. Ông anh rễ vừa làm vừa đổ mồ hôi hột.
“Nàng Công Tằng” của tôi cười nói nhởn nhơ, kể chuyện một cách thơ ngây, vô tư mà sao tôi thấy cả một bầu trời đen tối đang đổ chụp xuống đầu tôi.
Anh rễ nàng cũng là dân gốc Huế mà còn vậy, huống hồ là tôi dân Nha Trang bình dân học vụ. Lễ nghĩa ba trợn, ba trạo như tôi thì làm sao mà lọt vô được cánh cửa hẹp đầy nghi thức phong kiến như vậy. Cha mẹ tôi lại là chân quê làng chài, dốt nát chữ nghĩa Thánh hiền, cù mì, cục mịch, quần cùi áo cụt thì làm sao có thể ngồi ngang hàng với Ba nàng, với họ hàng nàng để nói chuyện sính lễ hôn nhân. Đến đó chỉ có mà chuốc lấy điều bẽ bàng, mặc cảm thua kém chuyện môn đăng hộ đối. Có khi còn phải đeo nặng nổi khinh rẽ ê chề của họ, xấu hổ mà về.
Tội cho nàng, nàng vẫn cứ hồn nhiên yêu tôi như ngày nào. Nàng đâu có hay rằng câu chuyện nàng vô tình kể đã là con dao trủy thủ đâm nát quả tim tôi và giết chết ngay tình yêu của nàng trong lòng tôi từ ngày hôm đó.
Ngày mãn khóa ra trường, tôi lẵng lặng khăn gói lên xe lửa về lại đất Nha Trang hiền hòa của tôi không một lần cuối đến thăm, không một lời từ giã. Tôi sợ sự đau lòng và nước mắt. Mấy tháng sau, đang đi trên phố Phan Bội Châu Nha Trang, chợt trông thấy nàng từ xa, tôi vội nép mình sau mấy quầy sách báo treo lủng lẳng để ẩn mình. Nàng vừa đi vừa ngó dáo dác, tìm kiếm. Có lẽ nàng hy vọng một chút may mắn tình cờ nào đó gặp lại tôi chăng. Hỡi ôi! Kẻ đã cố tâm trốn chạy thì người vô tình làm sao kiếm cho ra?
Tôi đã nhẫn tâm phụ tình nàng bởi sự tự ti mặc cảm về thân phận hèn kém của gia đình mình.
Điều tôi đã làm đúng hay sai?
Câu hỏi này cứ ám ảnh tôi, lương tâm tôi cứ dày vò tôi mỗi khi tôi nghe lại một giọng hò Nam Ai, một bài ca “Thương về xứ Huế”.
Tôi chỉ biết là tôi hãy còn rất thương nàng Công Tằng với nỗi ân hận khôn nguôi.
Năm 1968, sau chín tháng quân trường, tôi mang cái quai chão trên vai cùng với 24 tân chuẩn úy khác về trình diện Tiểu Khu Bình Định trước Tết Mậu Thân ba ngày. Vị Trung Tá Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng cho chúng tôi về nhà nghỉ phép bảy ngày ăn Tết, trước khi lãnh nhiệm vụ trấn thủ lưu đồn. Nào ngờ, chiều ba mươi Tết, chúng tôi được lệnh khẩn cấp của Phòng Nhứt bắt phải có mặt tại Tiểu Khu gấp. Khi tập hợp đông đủ trong phòng hành quân, chúng tôi mới được thông báo là Việt Cộng đã phản bội lệnh ngưng bắn một tuần lễ cho đồng bào ăn Tết truyền thống. Chúng sẽ tấn công khắp Miền Nam. Lệnh cấm trại 100% để ứng chiến được ban ra.
Đúng như tin tình báo, sáu giờ chiều hôm đó, chúng đã bắt đầu tấn công Trung Tâm An Ninh Quân đội trước và nã đạn khắp nơi. Ban đầu dân chúng cứ tưởng là pháo Tết đốt sớm. Nhưng sau thấy xe nhà binh di chuyển quân dồn dập và tiếng súng nổ càng lúc càng nhiều, thiên hạ mới hoảng hồn hoảng vía.
Bảy ngày sau, Đài Phát thanh Qui Nhơn, nơi cố thủ cuối cùng của Việt Cọng bị triệt hạ, an ninh tỉnh Bình Định được vãn hồi. Cùng lúc, khắp Miền Nam, quân đội Cọng Hòa đã đánh “Lục diện mai phục” tức đánh “Sáu mặt là sặc máu” quân Bắc Việt. Con cháu Bác Hồ ôm đầu máu lũi về Bắc.
Đám tân sĩ quan chúng tôi được lưu lại Tiểu Khu để bảo vệ an ninh thêm hai tháng nữa. Trong thời gian này, Vị Tiểu Khu Trưởng muốn chọn một trong số chúng tôi, ai có khả năng báo chí để giúp ông thành lập Ban Báo Chí trợ lực cho Phòng Năm Tâm lý Chiến quá yếu, để đẩy mạnh mặt tuyên truyền chống lại sự phỉnh gạt đồng bào của Việt Cọng.
Ông ra đề thi: “Sự phản bội của Cọng Sản Tết Mậu Thân” Viết bài bình luận. Hai mươi lăm anh chuẩn úy sữa, ai cũng sợ ra chiến tuyến nên hè hụi nằm ép rệp trên lô cốt gác giặc, viết bài dự thi. Một tuần sau khi nộp quyển, đích thân vị Trung tá chấm bài, tôi và một anh chuẩn úy khác được chọn. Bài tôi đươc phê: “Văn gãy gọn, mạnh mẽ. Lý luận sắc bén”. Bài anh kia được phê: “Văn phong chãi chuốt, ý tứ súc tích”.
Khi chúng tôi trình diện để nhận lảnh trách nhiệm lập Ban Báo Chí thì mới biết tên anh là Phan Quật, cử nhân Hán văn, gốc Huế, hãy còn “Độc thân vui tính”. Chúng tôi làm việc suốt hai năm rất ăn ý với nhau. Ngoài việc hàng ngày bay theo Vị Tỉnh trưởng đến các mặt trận xãy ra để lấy tin, viết bài cho Đài Phát thanh Qui Nhơn, Bản Tin Tiểu khu, chúng tôi còn kiêm thêm phần thông dịch bất đắc dĩ. Đám Cố Vấn Mỹ đến thì tôi tiếp với mớ tiếng Anh ba rọi của mình. Đám Sĩ quan Đại Hàn Sư đoàn Mãnh Hổ hay Sư đoàn Tiếp Vận Cây Dừa đến thì anh Phan Quật múa bút tiếp. Anh không nói được tiếng Hàn nhưng anh dùng bút để “bút đàm” tiếng Hán với con cháu Cao Ly cũng cùng một nòi Ba Chệt. Kể cũng vui và buồn cười.
Tôi với anh Quật hợp ý nhau nên thân với nhau lắm. Phải nói là tâm đầu ý hợp. Anh có cô bồ tên là Hoa xinh đẹp, làm thư lý cho phòng hành chánh. Cô ta là người Qui Nhơn. Tôi tò mò hỏi anh:
- “Anh là người Huế, lại là người Hán học, đọc sách Thánh hiền, sao không chọn một cô “Tiểu thư đài các trong hàng vương tôn vọng tộc” mà lại đi chọn cô Hoa, con nhà dân dã?
Anh nhún vai đáp:
- “Tôi là người Huế nên biết sợ người Huế! Anh là dân Nha Trang không rành dân Huế đâu!”
- “Dân Huế cũng giống như mọi người, mọi nơi khác có gì mà phải sợ?”
- “Huế bây giờ chỉ có hai hạng người. Hạng thứ nhất là Thần, Thánh, Tiên, Phật. Hạng thứ hai là cứt. Anh chọn hạng nào?”
Tôi không hiểu ý anh nên nín lặng, không dám đưa câu trả lời.
Hồi lâu, anh buông câu chấm than:
- “Tôi sợ hạng thứ nhất, và khinh hạng thứ hai!”
Tôi không biết về nhân tình xứ Huế nên không có lời bàn mà chỉ thầm nghĩ:
- “Anh Quật ta cũng là thêm một hạng thứ ba: hạng cực đoan đây!”
Năm 1970, tôi được biệt phái trở về nhiệm sở cũ và được bổ về làm Hiệu Trưởng một trường Tiểu học nhỏ ở Bình Tân. Ở đây tôi gặp lại anh bạn hoàng tộc họ Bửu, học một lớp Sư Phạm với tôi năm xưa. Bây giờ anh đã có vợ và hai con. Nhân vụ tranh chấp ngấm ngầm chức Hiệu trưởng còn trống nơi trường anh dạy, anh ngỏ ý nhờ tôi nói dùm mấy lời tốt cho anh với bà Thanh Tra Mô, cũng người Huế, để anh được đề cử lên chức vụ đó. Chắc anh ta tưởng tôi có uy với Ty lắm. Tôi chân ướt, chân ráo mới đổi về làm gì có uy như anh tưởng. Nhưng tôi cũng đã được anh mời ăn một bữa gà xé phay tại nhà cho trơn môi dễ nói.
Hôm tôi tới nhà, hai đứa con anh chừng năm và bảy tuổi ra vòng tay cúi mọp lưng chào rất lễ phép:
- “Chúng con xin chào Ông!” Tôi trách anh:
- “Anh dạy chúng nó chào là được rồi, làm gì phải vòng tay mọp lưng như vậy! Bớt phong kiến đi!”
- “Không được! Người Huế tui phải như vậy mới là con nhà gia giáo!”
Khi ngồi vào mâm, anh gọi vói ra sau bếp, kêu vợ lên ăn luôn thể:
- “Mợ ơi! Thôi nghỉ tay đi! Lên ăn với chúng anh cho vui!”
- “Cậu với anh bạn cứ tự nhiên trước đi! “Mợ” còn bận tay chút xí nữa rồi lên sau!” Chị vợ, giọng Bình Định, từ dưới bếp vọng lên trả lời. Đang gặm cái chân gà, nghe tiếng trả lời, tôi cười sặc lên, xuýt tý nữa là hóc cái xương vô cổ, giống như Tào Tháo hóc cái gân gà.
Mới đây, trò chuyện với ông bạn già thất thập Hoàng Long Hải, tức nhà văn Tuệ Chương, đề cập đến chuyện “Ông Huế Học Nguyễn Đắc Xuân”, một nhà đạo văn, đạo tư liệu, có mấy chục cuốn sách dày, mỏng và vừa, Ông Tuệ Chương cho biết như sau: “Mặc dù tôi không phải là người Huế chính cống. Nhưng nói cho đúng thì tôi là Huế từ khi tôi chưa sinh ra và cái chất Huế đó phát triển từ khi tôi mới biết khôn. Tuy nhiên, đối với Huế, tôi nhớ hình như có câu nói của một nhà văn nữ gốc Huế, Nhã Ca hay ai đó, có một nhận xét khá tinh tế: “Huế đi để mà nhớ không phải ở để mà thương”. Nói chung, người Huế “khó chịu” không phải ở hàng vua chúa, hoàng tử, công chúa, hay quan lại mà ở những người “cố làm ra vẻ dòng dõi vua quan”, “con dòng cháu giống”, những người tự vẽ vời cho mình những cái mà họ không có rồi tỏ vẻ khinh thường những ai bị cho là không bằng mình, “mục hạ vô nhơn”. Thành ra sống gần họ thấy “khó thở”. Thậm chí, bạn bè, anh em cũng bỏ nhau vì những thứ “rởm đời” như thế. Cũng không riêng gì người Huế đâu, cả những người ở xứ xa, Quảng Nam, Bình Định, v.v... đến sinh sống ở Huế rồi cũng “học đòi” như thế. Nhận xét toàn bộ về hạng người này, người Huế có câu tục ngữ khá hay: “Cóc mọc đuôi”. (Trích: Về Một Quãng Đời của Trịnh Công Sơn của NTT trang 238-239)
Qua thi văn, sách vở, tôi thấy Huế là xứ của thơ, của mộng, của văn hóa ngàn đời rất đáng yêu, đáng trân trọng. Cớ gì lại không thể kết giao?
Tôi e rằng khi Ông Trần Quí Cáp khi kết bạn với người Huế lại gặp phải toàn những Ngài “Cóc mọc đuôi” chăng?
Để rồi Ông phải đúc kết bằng một nhận xét “tiêu cực” đứng đầu trong bốn không: “Nhứt bất giao Thừa Thiên chi hữu”!

Nhị bất đấu Phú Yên chi kê !

Trong Đông Chu Liệt Quốc, (không nhớ là ông vua nào? nước nào? Chao ôi! Nhân vật trong Đông Chu nhiều như cây trên rừng Thần Thánh nào mà nhớ cho xuể!) có chép một chuyện về “đá gà” đại ý như sau: Ông Vua nọ rất mê đá gà lại muốn gà của mình phải là “nâm bờ oanh”, vô địch trong thiên hạ nên hỏi ý kiến cận thần phải làm sao mà có được một “Đại tướng gà dũng mãnh như vậy ”? Một anh cận thần hiến kế và lãnh phần tìm gà nòi thứ dữ để nuôi và cam đoan một trăm phần trăm “Đại tướng quân gà” của Nhà vua sẽ “Thiên hạ vô song”. Nhà vua nghi ngờ hỏi:
- “Ngươi có chắc như thế không?”
- “Nếu gà của Chúa Công ra trận mà thua thì cứ cứa cổ hạ thần mà trị tội!
Nhà vua nghe nói bèn rung đùi khoái tỉ. Ba tháng trôi qua, Nhà vua kêu viên cận thần hỏi:
- “Gà đá được chưa?”
- “Chưa được! Gà hãy còn non lắm!”
Ba tháng nữa, Vua lại hỏi:
- “Đã đem đi chọi được chưa?”
- “Vẫn chưa được! Gà đang sung sức, hãy còn hăng lắm!”
Sáu tháng sau, Vua nóng ruột lại hỏi:
- “Thế nào? Gà đá được chứ?”
- “Tâu Chúa Công ! Giờ này không cần đá nữa, gà thiên hạ thấy gà của Chúa Công là đã chạy mặt rồi!
Quả nhiên, đem gà ra trường đấu để chọi thử, bất cứ con gà nào thấy cái dáng đi, điệu đứng hùng vĩ của gà Nhà vua đều co đầu, rút cổ chạy tét hết.
Nhà vua lấy làm đắc ý và thấy lạ lắm, bèn hỏi viên cận thần cách nuôi gà như thế nào mà “số dzách” vậy. Anh quan này nhân cơ hội đem phép nuôi gà bàn leo qua phép nuôi và dưỡng quân đi đánh giặc. Chuyện này dài dòng và lạc đề chuyện đá gà nên không chép ra đây.
Thời gian đi học và đi lính, tôi chỉ đi ngang Tuy Hòa nhiều lần chứ chưa ở lại đó ngày nào nên mù tịt về cách nuôi gà và đá gà của người tỉnh Phú Yên ra sao, mà đến nổi Ông Trần Quí Cáp kính mến của tôi vừa thấy gà của Phú Yên là đã chạy tét. Vừa chạy vừa la “Bất đấu Phú Yên chi kê”! Không! Không đá gà với dân Phú Yên!
Tuy nhiên hồi còn ở xóm Cồn, cứ nhìn cách nuôi và tưng tiu gà của chú Ba Nhóm gần nhà tôi là đã thấy công phu và nhiêu khê lắm rồi. Chú Ba Nhóm là người quê ở Phú Yên, Tuy Hòa, Tuy An vào xóm tôi từ lâu lắm. Chú làm thợ may từ cái thuở còn thanh niên lận. Khi tôi lên mười thì chú đã vợ con đùm đề. Nghề may của chú rất khéo nên người trong xóm đến may áo quần rất đông. Chú may “đồ tây”. Còn chú Đạm ở đối diện nhà tôi thì chuyên may “đồ ta” nghĩa là áo Bà Ba, áo lá và quần dài chân què, quần đùi trẻ con.
Tuy đắt khách vậy, chú Ba Nhóm chỉ may vào ban đêm dưới ánh đèn “măng sông”. Còn ban ngày thì chú chỉ lo o bế gà và ôm gà đi lên mấy trường gà ở Chợ Mới để đá độ. Cha tôi nói:
- “Gà của thằng Ba Nhóm chỉ có cửa ăn, cửa huề mà thôi!”
Không biết chú Ba Nhóm có học được ngón nghề chọn gà, nuôi gà nòi đá độ của người xưa hay bí truyền của xứ Phú Yên quê cha, đất tổ mình hay không, nhưng ai đi ngang trước nhà chú, nhìn con gà của chú nhốt trong sân cũng phải mê. Con gà đứng trong cái lồng tre đan thưa, thỉnh thoảng ngẫng cao đầu vươn cổ gáy trông thật hùng dũng. Con gà nòi đưa cái ức rộng, cái lườn sâu và dài màu đỏ ké. Chòm lông đuôi nhiều, cong vòng và cứng như nan tre. Cái mào đỏ như lửa thẳng đứng trên cái đầu thon nhỏ với chiếc cổ to cân đối với thân mình. Hai cặp cánh to ốp tận đuôi.Trông mặt nó dữ tợn với hai con mắt sâu, mí dày, khoé miệng to rộng, sâu và quặp lại. Hai cặp đùi to nhưng cẳng thì thon lại với ba hàng vảy. Khi thả nó ra khỏi lồng cho ăn, cho uống, nó bước đi những bước nhanh nhẹn và oai vệ y như một viên tướng tiên phuông. Chú Ba Nhóm lựa toàn những lúa nếp tốt đem ngâm rồi mới cho ăn. Vài ngày chú lại cho ăn thêm đậu xanh hột hoăc thịt lươn sống bằm khúc. Nhìn chú o bế con gà chiến của mình cũng thấy sướng con mắt. Chuẩn bị ngày mai lên trường gà, ngày hôm đó, chú bôi nghệ và phun rượu thuốc ngâm lên toàn thể con gà. Miệng phun, tay vuốt dọc theo lườn, theo cánh và hai bắp chân con “Thần kê”. Nhất là cặp “Song đao” tức hai cái cựa gà, chú gọt và trau chuốt nó vừa mạnh, vừa bén y như cây đao của Quan Vân Trường. Chú cho biết con “Thần kê” của chú có ngón “đà đao” rất độc y như Quan Công ngày xưa giả bại kéo rê đao mà chạy. Tướng Nhan Lương, Văn Xú tưởng thật, rượt nà theo, xuất kỳ bất ý, ông tướng mặt đỏ vung đao chém quặt lại. Dĩ nhiên ai mà đỡ kịp. Hai cái đầu Nhan Lương và Văn Xú thay phiên nhau xếp hàng làm chiến lợi phẩm dâng lên cho anh chàng Minh chủ Viên Thiệu cả ngố xem, khi chén rượu thưởng công vừa hâm nóng, rót ra chưa kịp nguội. Con gà của chú Ba Nhóm đã hạ biết bao địch thủ tại đấu trường cũng dùng miếng “đà đao” đó. Đám gà của anh Bảy Phết, của chú Bảy Lời, của ông Năm Đa thợ săn cuối xóm so với gà chú Ba Nhóm giống như đám gà con đứng trước đại bàng, không khi nào dám đối diện chớ đừng nói chi chuyện đấu đá. Mấy năm trước, mỗi tuần một hay hai lần, chú Ba Nhóm mang gà lên Chợ Mới tranh tài. Chiến thắng vinh quang và tiền cá độ chú thu về không ngớt. Dần dà, dân chơi gà khắp nơi đều chạy mặt chú Ba Nhóm, không ai dám đua gà với chú nữa. Mấy con gà độ của chú nuôi dưỡng, o bế lâu ngày không còn có cơ hội ra sức trổ tài nữa đâm ra mập béo lên, ục ịch giống như gà nuôi thịt. Bây giờ có thả ra, chúng chỉ chậm chạp quanh quẩn cái lồng đựng thức ăn, nước uống mà thôi. Chú Ba Nhóm ngồi may trong nhà, trước cửa sổ, thỉnh thoảng ngó ra sân rồi chép miệng, lắc đầu. Có lẽ chú luyến tiếc những ngày xưa oanh liệt nay còn đâu.

Tứ bất thương Bắc Kỳ chi xứ !

Điều này thì rõ như ban ngày. Nam, Trung, Bắc ba kỳ thì Bắc Kỳ đứng đầu trong chuyên buôn bán làm ăn. Tranh đua thương mãi với Tàu Chệt chỉ có Bắc Kỳ mới xem ra đồng cân đồng lạng.
Cứ đi từ đầu đường Độc Lập cho chí cuối Phan Bội Châu chợ Đầm Nha Trang mà coi. Một trăm tiệm từ đồ sắt, máy móc cho chí tiệm ăn, tạp hóa thì hết bảy chục tiệm trưng bảng hiệu không “Xương” thì cũng “Ký” kèm theo hàng chữ Tàu to tổ bố. Còn lại ba chục tiệm thì Chà Và bán vải, bán Cà Ri dê, bán sữa dê chiếm một phần ba. Hai chục tiệm thừa ra là người Bắc làm chủ. Bói không ra một ông hay bà chủ nào người Trung hay người Nam Kỳ.
Người Trung nói chung là từ Phú Yên, Bình Định trở ra cho đến Quảng Trị, Quảng Bình Đồng Hới. Người dân sống trên một dãi đất hẹp, ngoằn ngoèo, có nơi bề ngang chưa đầy năm cây số. Một bên là vực sâu biển cả. Một bên là núi đá dựng đứng. Mùa hè thì gió Lào nóng như chảy mở. Mùa đông thì khí đá núi toát ra lạnh thấu xương. Đất cày lên sỏi đá. Lại thêm bão lụt triền miên. Quanh năm lo chống chọi với thiên tai để dành giựt từng củ khoai, củ sắn với thiên nhiên. Người dân đa số đều nghèo từ đời ông cho tới đời cha. Vốn liếng đâu mà đi buôn. Ai lại chẳng biết câu “Phi thương bất phú”. Nhưng “Nước lã sao gột nên hồ”?
Lại còn thêm cái háo danh mộng làm quan nữa. Nhà nhà ráng thắt lưng buôc bụng cho con ăn học kiếm chút chữ nghĩa để thi đậu làm quan cho vinh hiển với đời. Không ông Nghè, ông Cống cũng cậu Tú, ông Đồ. Cái quan niệm “Sĩ nông công thương” bắt rễ từ ngàn xưa khó mà thay đổi một sớm một chiều. Mấy anh đồ nho nghèo kiết xác mà cứ hở miệng ra là cứ xưng xưng “Tước hữu ngũ: Sĩ cư kỳ liệt! Dân hữu tứ: Sĩ vi chi tiên!” Cái nghề “thương” được xếp hạng chót trong nấc thang xã hội.
Người ta chỉ luôn chú trọng về chuyện chữ nghĩa và làm ruộng. Hầu hết đều thủ sẵn chiến lược “Tiến vi quan, thoái vi sư” trong việc hành xử. Mặc dù ai cũng thấy rành rành cái chuyện “ Nhất sĩ, nhì nông; hết gạo chạy rông, nhất nông, nhì sĩ ”. Vì vậy, “muôn đời Lục Quân Việt Nam”, dân làm nghề thương mãi là người miền Trung hiếm họa lắm. Ấy là chưa nói tới chuyện sĩ diện!

Cho đến nay, ai đã từng ở Đà Lạt thì biết rõ. Từ cô gánh rau cho tới bà bán chè dạo nếu là người Huế thì đều luôn mặc áo dài thướt tha và đôi môi nhất định phải bôi tí son, cặp má nhất định phải có tí phấn hồng. Đó là gia đình dân thường. Còn gia đình quan lớn, quan bé rơi rớt lại thì: “Ngọc vỡ còn hơn ngói lành” hay “Dù gì đi nữa ta cũng là, Đói no cam lòng, ai lại bương ra chợ! Ốt dột chết!” Thậm chí có câu chuyện thuộc loại “Tiếu lâm truyền miệng” rằng có một Mệ nọ nghèo kiết xác mà cái giọng vẫn cứ như quan ngày nào:
- “Đứa mô có mấy xu đưa cho Mệ, Mệ chém bay đầu mấy củ khoai!”
Trong khi đó thì người Bắc rất chịu khó bươn chãi, cần cù và năng động trong việc buôn bán. Cứ lấy hai ví dụ nhỏ trong xóm tôi là gia đình anh Thủy bán phở và gia đình bà Phó bán xôi ra xem thì thấy rõ. Hai gia đình này trôi tắp vào xóm tôi từ năm 1954 với hai bàn tay trắng, lúc vượt thoát nạn Cọng Sản vào Nam bằng “Tàu há mồm”. Gia đình anh Thủy từ chỗ đẩy xe phở tiến lên tới chức Chủ tịch Phường thì đã kể trong truyện “Chị Tám lại cái” rồi. Còn gia đình bà Phó bán xôi thì càng đáng nể hơn nữa. Tôi không rõ cái tên Phó là tên thật của bà hay chỉ là cách gọi của người Bắc gọi cái nghề chụp hình và nghề thợ mộc là Phó Nhòm và Phó Mộc. Chỉ biết bà ở góa và hai thằng con trai còn nhỏ, cỡ tuổi tụi tôi, dạt vào xóm tôi, che một túp lều ven biển, sống lam lũ như dân trong xóm . Ngày ngày bà đội thúng xôi trên đầu có vấn chiếc khăn mỏ quạ đi khắp xóm để bán. Xôi bắp nhưn đậu xanh, muối mè của bà ngon đặc biệt. Vừa mềm, vừa dẽo, vừa béo lại vừa bùi. Khác hẳn với xôi nếp trắng, ăn với cá cơm kho khô của bà Bông Liên má thằng Bông. Hai thằng con cũng được cặp sách đến trường. Ba năm sau, bà dời nhà từ xóm tôi lên xóm Nguyễn Bỉnh Khiêm, xây một cái nhà gạch, mái ngói, nền xi măng thật lớn. Bà không còn phải đội xôi đi bán nữa. Nay bà đã có hẵn một sạp tạp hóa bán đồ khô trong chợ Đầm. Hai đứa con bà sau này nghe nói một đứa đã học tới chức kỹ sư Phú Thọ, một đứa học tới chức luật sư làm thầy kiện ở Sài Gòn. Trong lúc ấy dân xóm tôi, “Cốt khỉ vẫn hoàn cốt khỉ”. Nghĩa là người đi mành đến đời con vẫn đi mành. Má tôi bán cháo, bán chè nuôi bầy con. Mấy chục năm sau gánh chè, gánh cháo vẫn còn đòn gánh đè vai. Không có cách gì khá lên được.
Xem vậy đủ biết người Bắc buôn bán giỏi đến chừng nào!
Còn nói đến mấy anh Nam kỳ thì, ối thôi, họ sướng đến nổi “Mọc lông cổ”. Nói theo cách nói của người làng tôi là họ giàu có sung sướng từ lúc mới lọt lòng mẹ. Cái xứ gì mà “Ruộng cò bay mỏi cánh, chó chạy sạc đùi”. Cá tôm ngoài mương, ngoài đồng đặc lềnh. Cứ nằm ngữa mà ăn cả đời không hết. Vậy thì còn buôn bán làm chi cho mệt? Những chuyện truyền miệng về Công tử Bạc Liêu như Hắc Công tử, Bạch Công tử xài tiền như nước, đốt giấy năm trăm đồng hình chiếc lư để làm đèn soi tìm cái kẹp tóc đáng giá ba xu của cô ca kỷ là chuyện “thường ngày ở huyện” đời nay.
Tôi chưa đi khắp lục tỉnh miền Nam nên chưa mở rộng hết tầm mắt về cái cảnh ruộng đồng bát ngát, phì nhiêu, lúa chín vàng đất, cá tôm đầy sông, cây trái quanh năm, xuồng tam bản chở hoài không hết, nhưng đọc sách ông Bình Nguyên Lộc và ông Sơn Nam cũng đủ mê tít thò lò cái “Miệt Hậu Giang sông nước”, cái “Miền U Minh rừng rậm” còn đầy dẫy cọp beo, rắn rít, người và thú hoang cái thuở còn ăn chung ở lộn.
Năm 1970, nhân lúc được biệt phái về nhiệm sở cũ, trình diện Bộ Giáo Dục ở Sài Gòn, chúng tôi bốn người đi xe gắn máy về Long An thăm chơi anh bạn miền Nam Ngô Thanh Bạch. Lâu ngày xa cách, tay bắt mặt mừng, anh Bạch dẫn chúng tôi về quê ngoại cách phố chừng năm cây số để thưởng thức “Hương đồng gió nội”. Ông bà ngoại anh Bạch sống trong một căn nhà xưa, khá lớn giữa một khu vườn rộng, cây ăn trái bao quanh. Ông ngoại đã hơn bảy mươi nhưng trông vẫn còn khoẻ lắm. Tóc tuy đã bạc phơ phơ mà hàm răng vẫn còn nguyên chưa rơi rụng cái nào. Ông dẫn chúng tôi ra sau vườn, bên bờ mương nước chạy chung quanh. Một cái bàn nhỏ với mấy cái đẩu thấp đặt dưới gốc cây mận đỏ sum suê trái lòng thòng khắp nhánh. Thằng cháu ngoại chừng mười ba, mười bốn tuổi bưng ra một lò than và cái chão đặt cạnh gốc mận. Trong lúc anh Bạch nhóm lò, thằng bé đi đào giun (trùn) để câu cá, Ông ngoại mời chúng tôi nhâm nhi ly rượu đế “Gò Đen”. Rượu cay nồng, càng xuống khỏi cổ rượu càng thấm ngọt. Chừng tới ly thứ ba, loại ly hột mít, thì thằng bé đã giật được hơn chục con cá rô phi to bằng ba ngón tay, vừa lũm một miếng, ở dưới mương lên, bỏ vào chão dầu đang sôi rồi. Cá vàng tới, những chiếc vảy cong lên, vớt ra khỏi chão,vói tay ngắt một trái mận chín, bẻ ra làm hai, bỏ hột, kẹp con cá vàng vào giữa, bỏ vào miệng, nhai nghe đánh rốp một cái dòn rụm, hớp một ngụm đế đưa cay. Tất cả trôi tuột vào cổ họng thật là “đã”. Ông ngoại bày cách cho chúng tôi thưởng thức món “ cây nhà lá vườn”. Cứ như thế, ông ngoại chấp chúng tôi ba-một, nghĩa là chúng tôi “lì một lam” thì ông làm ba ly. Cá rô vàng béo ngậy dòn cả xương, nhai với mận chín chua chua ngòn ngọt, đưa cay đế “Gò Đen”, tôi tưởng chừng một trời thiên hạ đều nằm không đầy một hủ đế. Chúng tôi nhậu thấu trời, thấu đất không biết say. Chừng trời ngã về chiều, Ông ngoại dục chúng tôi về phố kẻo không thì mấy “ông nội” núp trong hầm, trong hố mò về thêm phiền. Từ xưa tới giờ nhậu ở quán, nhậu ở nhà, không biết bao nhiêu lần mà kể, nhưng chưa lần nào tôi được nhậu một bữa “đã” như vậy. Ngồi dưới bóng mát trong vườn, không khí trong lành, yên tĩnh, cá tươi, trái ngọt, rượu nồng, tâm hồn sảng khoái, bạn hiền đều có đủ cả, dẫu thi sĩ Tản Đà có luận trăm trang sách về sự ăn ngon chưa chắc đã bằng. Thiên nhiên đã ưu đãi người Miền Nam như vậy, chuyện học hành thi cử, công danh họ cũng không màng huống hồ chi chuyện mua bán tranh dành! Nhưng có điều tôi vẫn chưa hiểu được là người Bắc buôn bán giỏi và cần cù siêng năng vậy thì có gì mà ông Trần Quí Cáp lại khuyên không nên buôn bán chung? Người Bắc tham lam, biển lận chăng? Họ không thành thật trong quan hệ mua bán chăng? Điều này không tránh khỏi trong chốn thương trường. Nhưng đâu phải ai cũng thế? Nam, Trung, Bắc gì chẳng có kẻ tốt, người xấu! Đọc lại tiểu sử của Cụ, chỉ thấy nói Cụ học giỏi, thi đổ ra làm quan, ngồi giáo thọ ở Nha Trang Khánh Hòa, rồi theo Cụ Phan Chu Trinh hưởng ứng phong trào Cần Vương đánh Tây giành độc lập cho nước nhà, chứ không thấy một dòng nào nói chuyện Cụ đi buôn, đi bán chi cả. Vậy thì cái điều thứ tư Cụ khuyên “Không nên buôn bán với người xứ Bắc” có giá trị kinh nghiệm được mấy chục phần trăm để con cháu đời sau nghe theo, để ứng xử? Theo cái điều hiểu biết chút chút của tôi thì tôi cho rằng Cụ Cáp nhà mình đã “Tri bỉ tri kỷ”, biết rõ mười mươi dân Trung, dân Nam lù khù, lờ khờ, vụng về, không chịu thương, chịu khó bằng người Bắc, đã không có tài buôn bán trên thương trường thì nên “Kính nhi viễn chi”, “Liệu đường cao chạy xa bay” chớ có nên hùn hạp buôn bán làm ăn với người Bắc. Có mà dại!

Tam bất thú Quảng Ngãi chi thê!

Ba cái không ở trên là kết bạn, đá gà và buôn bán thì tôi còn hiểu đôi chút lờ mờ để lý giải cái điều thắc mắc lẩm cẩm của mình, còn cái vụ “Không nên lấy vợ Quảng Ngãi” thì tôi xin chịu như nói ở trên. Trong ca dao, tục ngữ hay đồn đãi thì người ta có nghe thấy vài điều đây đó về đặc tính những nơi như: “Sơn bất cao, thủy bất thâm.” Gà không đuôi. Con gái Bình Định cầm roi dạy chồng. Vân vân... chứ không nghe thấy điều ong tiếng ve gì về con gái Quảng Ngãi. Vậy sao Cụ Cáp nhà mình lại khuyên không nên đụng đến con gái xứ này? Hay là thời trai trẻ, Cụ đã có lần bị cô nàng nào xứ này cho “leo cây” nên hận đời mà xâm vào cánh tay hàng chử “Bất thú Quảng Ngãi chi thê” giống như mấy “Hảo hán” xâm chữ “Xa quê hương nhớ mẹ ghẻ” để ghi nhớ mối hận tình? Cũng chỉ là võ đoán!
Khi vào lính, đóng quân ở Tam Quan, chiều chiều đứng trên đèo Bình Đê bên này ranh giới tỉnh Bình Định, nhìn qua phía bắc bên kia là quận Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi, tôi chỉ thấy núi đồi trùng điệp, nào thấy bóng giai nhân. Năm bảy mươi, tôi về làm Hiệu Trưởng một trường Tiểu Học nhỏ ở Nha Trang có chừng năm bảy giáo viên với vài trăm học sinh thành phần đa số là con lính đủ binh chủng bốn phương thuyên chuyển về đây. Trước ngày khai giảng, có một cô giáo trẻ tên Sương, mới tốt nghiệp Sư Phạm Qui Nhơn về trình diện tôi để xin nhận lớp.
Sau vài câu xã giao chào hỏi, biết tôi cũng xuất thân từ Qui Nhơn khóa I, cô trở nên thân tình hơn và tự giới thiệu cô là người xứ Quảng. Trước khi ra về, cô có vẻ ngần ngại hỏi tôi:
- “Thưa Thầy! Tôi nói giọng Quảng khó nghe, liệu lúc giảng bài mấy em học sinh chúng nó có hiểu tui nói chi không?”
Tôi cười xòa, trấn an cô giáo trẻ:
- “Cô đừng lo! Học sinh ở đây là dân tứ xứ tụ về. Giọng Trung Nam Bắc gì chúng cũng nghe và hiểu tuốt hết.” - “Nghe Thầy nói rứa tui cũng yên tâm và mừng.
Nhìn theo cái dáng thon mãnh của cô dắt chiếc xe đạp ra tới cổng trường, tôi nhận thấy cô quả là người con gái có nhan sắc ôn nhu. Cô có khuôn mặt bầu bầu với sóng mũi hơi cao và hai con mắt to vừa phải. Mỗi lần muốn diễn đạt điều gì cô mở mắt càng thêm to ra. Cái vầng trán cao làm cho gương mặt cô thêm sáng. Nhất là mái tóc đen tuyền kẹp lửng sau lưng. Cô đã có chồng. Tôi đoán thế. Còn con gái thì phải xỏa tóc thề. So với những cô giáo khác trong trường, cô có phần vượt trội cả về sắc và tính tình. Tôi lại chợt nhớ tới lời Cụ Trần Quí Cáp và không khỏi bâng khuâng trong lòng mối ngờ vực. Sao lại? Sao lại? Sau ngày khai giảng độ một tuần, buổi sáng kia có một bà phụ huynh dẫn đứa con gái tới văn phòng mét vốn ông Hiệu trưởng, bà nói:
- “Thưa Thầy Hiệu Trưởng! Con tui còn nhỏ quá mà cô giáo lại biểu sắm cà rá đeo để cô khám. Trong tuần này mà không có thì cô phạt.”
- “Thưa bà! Làm gì có chuyện bắt học trò sắm cà rá? Chắc em bé nghe lộn chứ nhà trường không hề có lệnh ấy!” Tôi ngạc nhiên hỏi lại.
Bà phụ huynh quay sang con bé hỏi lần nữa trước mặt tôi để xác nhận chuyện ấy có thật.
- “Có phải cô giáo biểu con sắm cà rá không?
Nói cho Thầy Hiệu Trưởng nghe đi!”
Con bé gật gật cái đầu mấy lần để xác nhận lời mẹ nó. Tôi hỏi nó học lớp mấy để mời cô hay thầy giáo phụ trách lớp lên giải thích. Con bé học lớp Ba. À! Lớp cô Sương! Tôi cho một em trật tự đi mời cô Sương tới văn phòng.
- “Cô Sương à! Bà phụ huynh này phàn nàn là cô bắt học sinh đi học phải mang cà rá. Cô có ra lệnh vậy không?”
- “Thưa Thầy! Tui đâu có ra lịnh chi mô?” Cô Sương ngạc nhiên phân bua.
- “Đây này! Con bé học lớp cô nó nói hôm qua cô bắt ai củng phải sắm cà rá để cho cô khám. Vậy hôm qua cô dặn chúng những gì?”
- “Thưa Thầy! Hôm qua tui chỉ dặn các em về nhà vở phải bao bìa và dán nhản đề tên để bửa ni tui khám.”
Cô Sương cố giải thích cho tôi và bà phụ huynh cùng nghe. Nghe đến đây tôi chợt hiểu ra và không kịp ngăn lại, tôi phá lên cười một hồi khiến cho bà phụ huynh và cô Sương ngơ ngác không hiểu khi không tôi lại cười ngất như vậy. Hóa ra ngôn ngữ bất đồng sinh ra rắc rối. Từ cái nhãn vở ở xứ Quảng chạy tuốt vô cái xứ Rạch Giá “Con cá gô bỏ trong gỗ kêu gột gột” biến thành chiếc cà rá nhiệm màu. Tôi cố nén tiếng cười rồi đi một màn giải thích cho bà phụ huynh:
- “Thưa bà! Đây chỉ là sự hiểu lầm mà thôi. Cô giáo tôi dặn các em dán nhãn vở nhưng vì nói giọng Quảng nên con bà nghe tiếng “nhãn” như “nhẫn”, mà bà là người miền Nam lục tỉnh nói chiếc nhẫn thành chiếc cà rá.”
Nghe giải thích xong, cả ba chúng tôi đều cười xòa vui vẻ.
Câu chuyện cô Sương có phép thần thông biến cái nhãn vở thành cái cà rá là đầu đề mọi câu chuyện vui khi tất cả giáo viên họp ở văn phòng giờ giải lao.
Năm năm, cô Sương dạy ở trường tôi, cô là một giáo viên giỏi, siêng năng cần mẫn, đúng giờ. Tính tình lại vui vẻ ôn nhu nên học trò rất thương yêu và được các bạn đồng nghiệp quí mến. Chồng cô là anh Cùng, giáo viên cấp hai, sau này là bạn của cả trường tôi.
Năm bảy lăm, tan hàng, trường tôi bị quân Giải Phóng Hải Quân chiếm làm nhà ở. Thầy giáo đi tù, cô giáo, học trò tan tác mỗi người một nơi.
Năm 2003, tôi trở về Việt Nam thăm lại quê xưa, gặp được một số thầy cô cũ. Ai nấy tóc đã điểm sương. Ngày họp mặt hội bạn già có cái tên nghe buồn buồn là “Giáo chức cao niên” có sự hiện diện của cả hai vợ chồng Sương-Cùng, bây giờ họ cũng đã là “viên ngoại” rồi. Nhưng hình ảnh cô Sương mới ngày nào đến trình diện tôi, nay đã ba mươi năm, vẫn còn đẹp đẻ trong trí nhớ của tôi. Và câu chuyện cái nhãn vở lại trở về rõ nét.
Lúc mọi người đang hàn huyên ôn lại những câu chuyện xa xưa, tôi xin kể một câu chuyện vui về phép lạ khó tin mà có thật. Ai nấy cũng tò mò muốn nghe. Tôi kể lại chuyện cái cà rá mà không nêu tên nhân vật. Khi dứt chuyện, mọi người cười vang thích thú nhưng vẫn thắc mắc nhân vật đó là ai.
Thình lình cô Sương đứng lên phát biểu:
- “Chuyện nớ có thật, khi tôi mới ra trường, nhưng thầy Hiệu Trưởng bi chừ kể thêm mắm muối, bột ngọt vô nên nó thành rứa!
Hóa ra không ai khảo mà mình lại xưng. Mọi người biết ra là cô giáo Sương chính là nhân vật trong chuyện. Lại thêm nhiều tràng cười khoái chí.
Tôi kể dài dòng về cô giáo Sương là để các bạn thấy rằng suốt quãng thời gian năm năm làm việc chung với nhau và sau hơn ba mươi năm gặp lại, cô Sương vẫn là cô gái Quảng đáng mến, đáng yêu như thế thì hà cớ gì Cụ Cáp của tôi lại răn đe “Không nên lấy vợ Quảng”. Giả tỉ, giả tỉ thôi nhé, nếu hồi đó tôi chưa có vợ, và cô Sương còn độc thân, chắc chắn tôi sẽ cãi lời Cụ để theo tán tỉnh cô và quyết cưới cô làm vợ cho bằng được. Dù cho từ Nha Trang lặn lội ra đến xứ Quảng phải vượt qua bảy núi, năm đèo, tôi cũng cố mà trèo. Bà ngoại tôi cũng dân Quảng, xóm tôi cũng có nhiều cô gái Quảng, họ trò chuyện với nhau như bắp rang “lòm en”, “en không en tét đèn đi ngủ” một cách chơn chất, thiệt thà. Họ sống trong làng tôi, sinh con, đẻ cái thành cả dòng, cả họ, hòa nhập vào dân tứ xứ nơi đây thành một cộng đồng mang một sắc thái văn hóa đặc thù mà không một địa phương nào có được. Thật tình tôi không thể lý giải được cái bí kíp thứ ba đầy ẩn ý của Cụ Trần Quí Cáp.

Mới đây, tôi hân hạnh được làm quen với ông Chủ Nhiệm Bán Nguyệt San “Nguồn” ở Bắc Cali. Ông là người Quảng chính gốc. Ông làm cả một tập thơ dày có tên là “Hoang vắng đôi bờ” để ca tụng quê mình.
Âu cũng là duyên may! Hôm nào tôi phải tìm cách tiếp cận, khề khà với ông vài chung rượu để hỏi ông chuyện này cho rõ ngọn ngành mới được!

Nguyễn thanh Ty
Đêm rằm Trung Thu năm 2004.

Ghi thêm:
(*) Thật ra Khánh Hòa cũng có anh hùng hào kiệt nhưng hiếm hoi lắm vì người Khánh Hòa tính tình ôn hòa ít thích chính trị và cách mạng. Nhưng đứng trước đại nghĩa, người Khánh Hòa rất sẵn sàng hy sinh. Năm Ất Dậu (1885) kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, xuống chiếu Cần Vương. Ở Khánh Hòa có ba anh hùng là Trịnh Phong, Trần Đường và Nguyễn Khanh đứng ra lãnh đạo phong trào giúp vua. Người thời đó gọi là “Khánh Hòa Tam Kiệt”. Ba ông chiêu tập nghĩa quân chống nhau với giặc gần hai năm. Nhưng gươm dáo làm sao địch lại với súng ống tối tân. Phong trào thất bại. Ba ông phải tuẫn tiết.
(*) Cụ Trần Quí Cáp, hiệu Thái Xuyên, người làng Bất Nhị, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, đậu tiến sĩ, ngồi giáo thụ huyện Tân Định, tỉnh Khánh Hòa. Cụ là một nhà chí sĩ cùng càc cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng là chỗ tâm giao đã cùng nhau ngấm ngầm tuyên truyền chống khoa cử, bài trừ hủ tục, hô hào chấn hưng công thương. Thực dân và bọn quan lại An Nam cho tay sai theo rõi để bắt bớ. Năm Mậu Thân (1908) ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định nổi lên phong trào “Xin xâu xin thuế”, bọn thực dân lùng bắt những người cầm đầu. Lớp bỏ tù, lớp xử tử. Quan tri huyện bấy giờ là Phan Bá Hoành bắt được thơ của gia đình Cụ Cáp gửi vào kể tình hình ngoài đó và thỉnh ý Cụ. Quan tỉnh Khánh Hòa là Tuần vũ Phạm Ngọc Quát và Án sát Nguyễn Mại được thơ, cả ba có dịp lập công với chủ, một mặt bắt tống lao Cụ và Hồ Sĩ Tạo, bạn của Cụ, một mặt tư về Sứ và Bộ. Hai Cụ bị kết án tử hình về mưu đồ phản loạn. Cụ Trần Quí Cáp bị hành quyết tại cầu sông Cạn. Từ Nha Trang đi lên, trước khi đến chợ Thành Diên Khánh thì phải qua cầu sông Cạn. Dân Khánh Hòa ai cũng căm giận phường gian nịnh, vì danh lợi mà bán tâm hồn cho giặc, phản quốc phản dân. Thân hào nhân sĩ ở đây đã đề nghị chính quyền đặt tên đườngTrần Quí Cáp chạy ngang trước mặt nhà hậu duệ của Phạm Ngọc Quát để kẻ qua người lại, lấy đó mà làm gương. (Theo tài liệu: “Xứ Trầm Hương” của Quách Tấn)

 

Bất giao Thừa Thiên hữu
Bất thú Quảng Nghĩa thê
Bất thương Bắc Hà khách (cổ)
Bất đấu Bình Định kê


(Chớ kết bạn với dân Thừa Thiên
Chớ lấy con gái Quảng Nghĩa (Ngãi) làm vợ
Chớ buôn bán với khách buôn Bắc Hà
Chớ chọi gà với dân Bình Định)
 
Hoặc:
Nhất bất giao Thừa thiên chi hữu
Nhị bất thú Quảng ngãi chi thê
Tam bất đấu Phú yên chi kê
Tứ bất thương Bắc kỳ chi xứ.

 

 

Kỹ năng mềm

10 bài học sâu sắc của Khồng Tử có giá trị với tất cả mọi người 

10 kỹ năng mềm tạo đà thành công

10 kỹ năng sống cần thiết cho mọi trẻ

18 chân lý sống giúp bạn vượt qua sóng gió cuộc đời

7 bài học về cách quản lý tài chính cá nhân

9 bí quyết làm giàu phải ghi nhớ trong năm 2016

Ăn nên làm ra nhờ mẹo đặt hũ gạo đúng chuẩn phong thủy

Bài học từ chủ tiệm cháo người Hoa 

Bài thơ "Một đêm xa" tác giả Hồng Ngát

Bức thư Gia Cát Lượng gửi con trai khiến người đời sau phải nghiền ngẫm 

Hướng dẫn học Cờ tướng nhanh tiến bộ nhất

Kinh nghiệm dạy con của người Nhật

Người phụ nữ giúp gia đình hưng thịnh

Nhân viên không từ bỏ công việc, họ bỏ sếp mà thôi!

Nơi ăn chốn ở an toàn khi đi thi Đại học trên địa bàn Đắk Lắk

Phi thương bất phú - Vi phú bất nhân 

Phương pháp quản lý tiền trong 6 chiếc hũ

Để thành triệu phú trong 5 năm

Đừng đợi đến lúc bạn già rồi, mới biết được điều gì là hạnh phúc 

Bài thơ dạy cách chữa 101 bệnh hay gặp 

Học cách tu nhân tích đức 

Bài học rút ra từ Chim đại bàng 

Tục ngữ Ca dao Việt nam về Nghề buôn bán 

8 bài học kinh doanh kinh điển 

 Gà xào cay kiểu Tứ Xuyên - ấm bụng ngày lạnh 

 Đàn ông đừng khiến đàn bà phải ngoại tình, sẽ chẳng điều gì đáng sợ hơn thế đâu 

 

Hầm rượu Đinh lăng